Chào mừng quý vị đến với Website Công đoàn Tiểu học Triệu Sơn.

Quý vị chưa đăng nhập hoặc chưa đăng ký làm thành viên, vì vậy chưa thể tải được các tư liệu của Thư viện về máy tính của mình.
Nếu đã đăng ký rồi, quý vị có thể đăng nhập ở ngay ô bên phải.
Gốc > Bài viết > Hỏi-đáp về chế độ chính sách (Báo GDTD) >

Hỏi - đáp về thuế thu nhập cá nhân

1. Bạn Nguyễn Văn Chiển (GV trung học nghề, TP Vinh, Nghệ An) và một số GV ở vùng Lào Cai, hỏi: Xin cho biết những đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân? Những khoản thu nhập như thế nào là khoản thu nhập chịu thuế?

Ngày 30-9-2008, Bộ Tài chính ban hành thông tư số 84-2008-TT-BTC hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Thuế thu nhập cá nhân (LTTNCN) và hướng dẫn thi hành Nghị định số 100-2008-NĐ-CP ngày 8-9-2008 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều của LTTNCN. Về đối tượng nộp thuế, thông tư quy định: Theo điều 2 của LTTNCN, điều 2 của NĐ số 100-CP đối tượng nộp thuế thu nhập cá nhân (TNCN) bao gồm cá nhân cư trú và cá nhân không cư trú có thu nhập chịu thuế theo quy định tại điều 3 của LTTNCN và điều 3 của NĐ số 100-CP. Phạm vi xác định thu nhập chịu thuế của đối tượng nộp thuế như sau: Đối với cá nhân cư trú, thu nhập chịu thuế là thu nhập phát sinh trong và ngoài lãnh thổ Việt Nam, không phân biệt nơi trả và nhận thu nhập. Đối với cá nhân không cư trú, thu nhập chịu thuế là thu nhập phát sinh tại Việt Nam, không phân biệt nơi trả và nhận thu nhập.

Các khoản thu nhập chịu thuế TNCN bao gồm: Thu nhập từ kinh doanh. Thu nhập từ tiền lương, tiền công. Thu nhập từ đầu tư vốn. Thu nhập từ chuyển nhượng vốn. Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản. Thu nhập từ trúng thưởng. Thu nhập từ bản quyền. Thu nhập từ nhượng quyền thương mại. Thu nhập từ nhượng thừa kế. Thu nhập từ nhận quà tặng.

2. Bạn Trịnh Văn Sự (Tập thể GV Trường CĐSP Bà Rịa – Vũng Tàu) hỏi: Việc khấu trừ thuế TNCN như thế nào? Phòng Tài vụ tạm tính tiền thuế TNCN, rồi khấu trừ vào tiền lương từ tháng 11-2008 làm cho tập thể GV hoang mang - vậy đúng hay sai?

Theo khoản 1 mục II phần D thông tư số 84-BTC của Bộ Tài chính: Việc khấu trừ đối với thu nhập từ tiền lương, tiền công được thực hiện hàng tháng. Cơ quan trả thu nhập căn cứ vào tiền lương, tiền công và các khoản có tính chất tiền lương, tiền công thực trả cho người lao động, thực hiện tạm giảm trừ gia cảnh cho đối tượng nộp thuế, người phụ thuộc theo đăng ký của đối tượng nộp thuế. Trên cơ sở thu nhập còn lại và biểu thuế luỹ tiến từng phần, cơ quan trả tính thuế và khấu trừ số thuế đã tính để nộp ngân sách nhà nước.

Ví dụ: Ông A là cá nhân cư trú làm việc tại công ty X có thu nhập thường xuyên từ tiền lương hàng tháng là 10 triệu đồng và phải nuôi 2 con nhỏ.

Hàng tháng công ty X thực hiện khấu trừ thuế của ông A như sau:

- Cho bản thân ông A là 4 triệu đồng một tháng.

- Cho 2 người phụ thuộc (2 con nhỏ) là 1,6 triệu đồng x 2 = 3,2 triệu đồng một tháng.

- Thu nhập tính thuế: 10 triệu đồng – 7,2 triệu đồng = 2,8 triệu đồng/tháng.

Số thuế TNCN phải khấu trừ là: 2,8 triệu đồng x 5% = 0,14 triệu đồng/tháng.

Luật Thuế TNCN có hiệu lực thi hành từ 01-01-2009, nếu đúng như thư bạn Văn Sự, thì Phòng Tài vụ khấu trừ thuế TNCN của GV là sai quy định.


Nhắn tin cho tác giả
Triệu Sơn @ 14:39 21/04/2009
Số lượt xem: 875
Số lượt thích: 0 người
 
Gửi ý kiến